Giáo Dục

Bài soạn lớp 11: Hạnh phúc của một tang gia

Hướng dẫn soạn bài: Hạnh phúc của một tang gia – Trang 122 sgk ngữ văn 11 tập 1. Tất cả các câu hỏi trong bài học đều được trả lời rành mạch và dễ hiểu. Với cách soạn sau, các em học sinh sẽ nắm tốt nội dung bài học. Ngoài ra, nếu có câu hỏi nào, các em comment phía dưới để thầy cô giải đáp.

Câu trả lời:

Tìm hiểu chung tác phẩm

Tác giả:

a. Cuộc đời

Bạn đang xem: Bài soạn lớp 11: Hạnh phúc của một tang gia

  • Xuất thân trong một gia đình nghèo, sống ở Hà Nội 
  • Quê quán: làng Hảo – huyện Mĩ Hào – tỉnh Hưng Yên 
  • Học hết bậc tiểu học , ông phải nghỉ học làm nhiều nghề để kiếm sống . Cuối cùng ông chọn nghề viết báo, viết văn . 
  • Năm 1937-1938 ông mắc bệnh lao=>1939 ông mất tại Hà Nội 

b. Sự nghiệp.

  • Những tác phẩm chính: SGK
  • Cây bút có sức sáng tạo dồi dào
  • Đa dạng về thể loại sáng tác với khối lượng tác phẩm đồ sộ nhưng thành công nhất ở phóng sự và tiểu thuyết

Toàn bộ sáng tác của Vũ Trọng Phụng đều toát lên niềm căm phẫn mãnh liệt vào xã hội thực dân phong kiến, xaõ hoäi Tư sản tàn bạo thối nát đương thời .Mệnh danh là “ông vua phóng sự đất Bắc”, là một trong những đại biểu xuất sắc nhất của trào lưu văn học hiện thực 1930 – 1945, một cây bút đầy tài năng,đã có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển mạnh mẽ của văn xuôi quốc ngữ Việt Nam.

Tác phẩm:

  • Xuất xứ: Chương 15 của tác phẩm Số đỏ. 
  • Chủ đề: Vạch trần, phê phán xã hội đương thời thông qua việc miêu tả một cuộc báo hiếu linh đình của đại gia đình bất hiếu.
  • Giá trị tác phẩm:
    • Giá trị nội dung:
      • Lên án gay gắt xã hội tư sản chạy theo văn minh lố lăng Phương Tây.
      • Đả kích những phong trào được thực dân khuyến khích như : Thể thao, âu hoá…
    • Giá trị nghệ thuật:
      • Bút pháp châm biếm đặc biệt sắc sảo.
      • Tác phẩm là bức tranh biếm hoạ đặc sắc về xã hội thực dân nửa phong kiến.

=> Số đỏ là một trong nh?ng thành tựu xuất sắc của van xuôi hiện đại Việt Nam.

Câu 1: Hạnh phúc của một tang gia là một phần của nhan đề chương XV…

Hạnh phúc của một tang gia là một phần của nhan đề chương XV tiểu thuyết Số đỏ do chính Vũ Trọng Phụng đặt. Anh (chị) có suy nghĩ gì về nhan đề này và tình huống trào phúng của đoạn trích? 

Trả lời:

Tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, là một trong những tác phẩm văn học tiêu biểu cho xu hướng hiện thực phê phán cái xã hội tư sản thành thị trước Cánh mạng tháng Tám năm 1945.Với lốì văn châm biếm sắc sảo, các chương trong “Số đỏ” đều là những màn hài kịch đầy thú vị, đặc biệt là chương XV “hạnh phúc của một tang gia”.

Ngay từ nhan đề đã chứa đựng mâu thuẫn trào phúng hàm chứa tiếng cười chua chát, kích thích trí tò mò của người đọc, đó là một nghịch lý” hạnh phúc của một tang gia”. Nhà có tang đáng lẽ phải buồn nhưng ở đây lại là hạnh phúc. Hạnh phúc này là hạnh phúc của gia đình vô phúc, hạnh phúc của lũ con cháu bất hiếu. Mâu thuẫn trào phúng cơ bản nằm ngay trong nhan đề. Đám con cháu vô cùng hạnh phúc trước cái chết của cụ cố tổ vì họ đã phải chờ đợi quá lâu. Cụ cố tổ mất đi đối với con cháu này lại là một niềm sung sướng vì chúng sẽ được hưởng gia tài. Vì thế cái đám ma này là đám ma đưa đến đâu làm huyên náo đến đấy. Cả một thành phố nháo nhác khen đám ma to, đúng với ý muốn của cụ cố Hồng.

Sự hấp dẫn của đoạn trích còn ở những mâu thuẫn trào phúng cơ bản. Trước hết nó nằm ngay trong nhan đề của chương: “Hạnh phúc của một tang gia”. Mọi thành viên trong gia đình đều thấy đây là một dịp may đặc biệt để thỏa mãn ý muốn, thực hiện được ý đồ riêng tư của mình. Cho nên cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm… cách đặt tiêu đề vừa gây chú ý cho người đọc, vừa phản ánh đúng một sự thật mỉa mai, hài hước và tàn nhẫn.

Câu 2: Vì sao cái chết của cụ cố tổ lại là niềm “hạnh phúc” của mọi thành viên…

Vì sao cái chết của cụ cố tổ lại là niềm “hạnh phúc” của mọi thành viên trong đại gia đình cụ? Phân tích những niềm hạnh phúc khác nhau của mỗi người trong đại gia đình cụ cố Hồng và những người đến đưa đám ma do cái chết của cụ cố tổ đem lại. 

Trả lời:

Cái chết của cụ cố tổ là niềm hạnh phúc của con cháu bởi đây là niềm mong đợi của chúng đã từ lâu khi cụ cố tổ chết đi chúng sẽ nhân được một số tiền lớn. Mỗi thành viên trong gia đình cụ cố tổ chỉ là những kẻ tham lam độc ác chúng coi tiền bạc là tất cả rồi làm những trò đáng xấu hổ.

  •  Cụ cố tổ chết gia đình ấy có chung niềm vui “cụ cố tổ chết cái chúc thư kia sẽ đi vào thời kì thực hành chứ không còn lí thuyết viễn vông nữa”. Đây đúng là một đại gia đình bất hiếu. Cùng với niềm vui chung đó, mỗi người trong gia đình cụ cố Hồng lại có những niềm vui riêng của mình. Cụ cố Hồng (con trai cả) sướng như điên vì lần đầu tiên được diễn trò giả vờ yếu trước mặt mọi người. Cụ đã nhắm nghiền mắt lại mơ màng đến cái lúc cụ mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc, vừa khóc mếu, để cho thiên hạ chỉ trỏ: “Uí kìa! Con trai lớn đã già đến kia kìa!”.  Cụ chắc cả mười phần rẳng ai cũng sẽ phải ngợi khen một cái đám ma như thế, một cái cây gậy như thế,… cụ cố Hồng chính là điển hình cho loại người  háo danh. Ông Văn Minh (con cụ cố Hồng, tức cháu trai)  thì băn khoăn chỉ là mời luật sư đến chứng kiến cái chết của ông nội mà thôi. Thê là từ nay, cái di chúc kia sẽ vào thời kỳ thực hành chứ không còn là lý thuyết viển vông nữa. Ông chỉ phiền một nỗi vì không biết xử trí với Xuân Tóc Đỏ sao cho phải bởi hắn có hai cái tội nhỏ, một cái ơn to,… Ông Văn Minh chính là điển hình cho loại người bất hiếu, dã tâm. Bà Văn Minh thì  mừng rỡ vì có cơ hội lăng xê những mốt, những y phục táo bạo nhất. đây là điển hình cho kiểu người thực dụng, thiếu tình người. Cô Tuyết được dịp mặc y phục ngây thơ để chứng tỏ mình hãy còn trinh tiết nhưng đau khổ như kim châm vào lòng “không thấy bạn giai đâu cả”.Đúng kiểu con gái hư hỏng lẳng lơ. Cậu Tú Tân vì thiếu hiểu biết nên sung sướng vì có dịp được dùng máy ảnh lâu nay không có dịp dùng đến. Ông phán mọc sừng vui mừng vì không ngờ rằng cái sừng trên đầu mình lại có giá trị.  Xuân Tóc Đỏ thì hạnh phúc vì nhờ hắn mà cụ cố tổ chết, danh giá uy tín của hắn ngày càng to hơn.
  • Những người ngoài gia đình cụ cố Hồng cũng có những niềm vui từ cái đám tang này hai viên cảnh sát Min Đơ và Min Toa thì sung sướng cực điểm bởi giữ lúc không có ai đáng phạt mà phạt, đương buồn rầu như nhà buôn sắp vỡ nợ. Những ông bạn thân của cụ cố Hồng có dịp để đeo, khoe các huân chương, đầu tóc, râu ria,…Đám phụ nữ quý phái, đám trai gái thanh lịch có dịp hẹn hò nhau, tụ tập nhau chim chuột, chê bai nhau,bình phẩm nhau. Mọi người dù là chủ hay khách cũng đều vui vẻ trước cái chết của cụ cố Hồng. Đây chính là sự suy đồi về đạo đức.

 Như vậy, tác giả khai thác những yếu tố mâu thuẫn để gây cười, cái cười phê phán đây mỉa mai châm biếm về một xã hội thực dân thu nhỏ với tất cả sự đồi bại, xuống dốc của đạo lý và nhân cách con người, đó là lời tố cáo của tác giả đối với xã hội Âu hoá rởm.  

Câu 3: Anh (chị ) hãy phân tích cảnh “đám ma gương mẫu”.

Trả lời:

 Tác phẩm với tiêu đề Hạnh phúc của một tang gia – miêu tả đám tang cụ cố tổ, giống như một chuỗi cười dài, một cuộc đưa tiễn tập thể, cuộc hành trình tới mộ của cả xã hội, cái xã hội tư sản thành thị Âu hóa rởm, văn minh rởm hết sức lố lăng, đồi bại đang hiện diện ở Việt Nam những năm 30 – 45 của thế kỉ XX. Tình huống truyện, mỗi nhân vật cứ tự nhiên làm bật ra tiếng cười. Tiếng cười mang nhiều sắc độ, liên tục không dứt. Nó kéo dài trong suốt thời gian đám tang, suốt cuộc hành trình đưa tiễn…

Hạnh phúc của một tang gia, nhà có tang lại là niềm hạnh phúc, cái hạnh phúc của lũ con cháu bất hiếu. Cái đám ma này bề ngoài thì thật long trọng, nhưng thực chất chẳng khác gì đám rước nhố nhăng. Đám ma to tát, đi đến đâu là huyên náo đến đó. Sau thời gian bối rối  của một nhà có việc tang, khi ba người quan trọng nhất – ông cố Hồng, bà vợ và Văn Minh từ trên gác xuống dưới nhà cắt đặt mọi việc, thì cái gia đình có đại tang đó bừng lên một ngày hội. Lúc đưa đám thì cả bàn dân thiên hạ ở phố phường, ai cũng thấy đám ma được tổ chức linh đình, đủ kiểu cách, lễ nghi theo cả lối ta, Tây, Tàu. Đám ma đưa đến đâu làm huyên náo đến đấy. Cả thành phố nhốn nháo lên khen đám ma to, đúng với ý muốn của cụ cố Hồng… Kèn ta, kèn Tây, kèn Tàu lần lượt thay nhau mà rộn lên. Tiếng khóc của những người trong tang gia xen lẫn tiếng thì thầm về chuyện vợ con, nhà cửa, may áo, sắm tủ, hoặc những tiếng nói thì thào của bọn đàn ông bình phẩm sắc đẹp của các cô gái, than thở việc vợ béo, chồng gầy. Vậy đấy, trên cái sân khấu hài hước, người đọc thấy được một khung cảnh pha tạp, hỗn độn, đồ vật và con người hỗn độn, âm thanh và màu sắc hỗn độn, việc vĩnh biệt một con người là việc đùa vui, tiếng khóc của nhiều người cũng hỗn độn. Đám rước mà như ở hội chợ. Đám tang hay đám rước? Bởi vì, như tác giả kể: Đám cứ đi rồi lại Đám cứ đi. Những lời văn bỡn cợt, lơ lửng, hóm hỉnh, chua chát. Và ông nhận xét: Thật đúng là một đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu.

Đỉnh cao của màn kịch trào phúng của cái đám ma chính  là cảnh hạ huyệt. Tú Tân xuất hiện như nhà đạo diễn cuốn phim hài kiêm quay phim nhiếp ảnh, cùng bạn bè rầm rộ nhảy lên nhưng ngôi mả như muốn đánh thức những linh hồn chết kia trở dậy để chứng kiến đám tang linh đình về người ông của hắn. Hắn bắt bẻ từng người một, hoặc chống gậy hoặc gục đầu hoặc cong lưng… cho đúng mốt hoặc lau mắt như thế này, như thế nọ… hợp thời trang để làm nên những tấm ảnh giả về cái chết thật và những tấm ảnh thật về cái chết của nhân tính. Cụ cố Hồng thì ho khạc, mếu máo và ngất đi. 

Chất bi hài của cảnh đám ma  khiến người đọc cười ra nước mắt. Chỉ có một tiếng khóc lớn nhất bật lên là của ông Phán mọc sừng, ông oặt người đi, khóc mãi không thôi và tiếng khóc của ông thật đặc biệt. Nhưng thực ra đó là tiếng khóc nhằm che giấu nụ cười nên không ra khóc mà cùng chẳng ra cười. Cuối cùng chỉ là những âm thanh méo mó: Hứt! Hứt! Hứt!… Đó phải chăng là tiếng khóc thương người đã khuất ? Không phải! Ông đang đóng kịch trước mắt mọi người kiểu như hất! hất! hất! … hất nhanh cái thây ma xuống mồ. Ông ta rất mừng vì cụ Tổ chết và ông được chia phần khá nhiều, kể cả cái giá của bộ sừng mà vợ ông đã cắm lên đầu ông. Miệng khóc, tay ông dúi nhanh vào tay Xuân Tóc Đỏ tờ bạc năm đồng gấp làm tư để trả công cho hắn đã gọi ông là Phán mọc sừng trước người nhà vợ. Và cũng nhờ đó mà ông có thêm được món tiền lớn.

Đám tang diễn ra như một tấn đại hài kịch. Nó nói lên tất cả sự lố lăng vô đạo đức của cái xã hội thượng lưu ngày trước. Cái xã hội mà tác giả gọi là Chó đểu, khốn nạn.

Câu 4: Từ niềm “hạnh phúc” của các nhân vật do cái chết của cụ cố tổ…

Từ niềm “hạnh phúc” của các nhân vật do cái chết của cụ cố tổ đem lại và cảnh tượng của cái “đám ma gương mẫu”, anh chị  nhận xét như thế nào về xã hội thượng lưu thành thị đương thời? Thái độ của nhà văn với xã hội này ra sao?

Trả lời:

Từ niềm “hạnh phúc” của các nhân vật do cái chết của cụ cố tổ đem lại và cảnh tượng của cái “đám ma gương mẫu” ta có thể thấy được bức tranh về cái xã hội “thượng lưu” đương thời. Cái xã hội thối nát, cái xã hội Âu hóa rởm, đạo đức và nhân cách của con người ngày càng đi xuống, suy đồi. Con người hành xử với nhau xảo trá, gian dối, thực dụng vô nhân, vô nghĩa.Chẳng đâu nữa còn chỗ cho nhân tính, những con người ấy không nhận ra cái chết của xã hội chó đểu. Ai cũng có những niềm vui riêng của mình từ cái chết của cụ cố tổ và họ phải diễn, diễn sao cho thật giống với cảnh một đám ma với nét buồn lãng mạn. 

Qua tác phẩm Vũ Trọng Phụng đã thể hiện một thái độ chán ghét cái xã hội thối nát, tác giả đã miêu tả đầy đủ những hình ảnh đó để thể hiện những hình ảnh chi tiết trong đoạn văn, hình ảnh này biểu tượng cho một điều đó là đồng tiền làm mờ mắt con người họ chỉ biết đến tiền mà không biết đến tình người. Để rồi tác giả cũng phải thốt lên rằng “chó đểu”, “khốn nạn”. 

Câu 5: Anh (chị ) nhận xét gì về nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng ở đoạn trích này?

Trả lời:

Bằng nghệ thuật trào phúng sắc bén “ Hạnh phúc của một tang gia” là một bi hài kịch, phơi bày bản chất nhố nhăng, đồi bại của một gia đình. Đồng thời phản ánh bộ mặt thật của xã hội thượng lưu thành thị trước Cách mạng tháng Tám. Từ một tình huống cơ bản, ban đầu tác giả đã phát triển theo nhiều hướng khác nhau tạo ra một vở hài kịch lớn.Tác giả còn phát hiện thủ pháp đối lập trong chính mỗi con người, mỗi sự vật,  để tạo nên tiếng cười châm biếm. Bên cạnh đó tác giả còn sử dụng nhiều thủ pháp cường điệu, nói ngược, nói mỉa nào là hạnh phúc của một tang gia, nào là cái đam ma to tát, cái đám ma gương mẫu, …Nhà có đám nhưng lại hạnh phúc, hạnh phúc của lũ con cháu bất hiếu, không có nhân tính. Rồi cái chết của cụ cố tổ lại đem đến niềm vui cho mọi thành viên trong gia đình, ai cũng có những dự định riêng của mình cần làm trong cái dịp này. Đám ma mà tác gỉa dùng những từ chỉ niềm hạnh phúc nào là đám đi đến đâu là huyên  náo đến đó, cả góc phố huyên náo chỉ chỏ cái đám ma to,.. rồi những người đưa đám có dịp để mà hẹn hò nhau, chim chuột, khoe gia sản, của cải, vợ, chồng, con cái,… một cái “đám ma gương mẫu” đến kỳ lạ. Việc vận dung linh hoạt các thủ pháp nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng đã đem lại hiệu quả lớn, nó lột tả đến trần trụi cái bộ mặt của xã hội “thượng lưu” đương thời. 

Tác giả còn có con mắt tinh đời để nhìn thấy và miêu tả đúng cái nét riêng của từng nhân vật xuất hiện trong đoạn trích. Ngòi bút miêu tả của Vũ Trọng Phụng linh hoạt, biến hóa, giàu yếu tố hài hước gây cười và sắc sảo tinh tế đến từng chi tiết nhỏ. Vũ Trọng Phụng xứng đáng là một bậc thầy – một nhà văn hiện thực xuất sắc trong việc sử dụng nghệ thuật trào phúng. 

[Luyện tập] Câu 1: Hãy chỉ ra những mâu thuẫn và những chân dung trào phúng…

Hãy chỉ ra những mâu thuẫn và những chân dung trào phúng ở đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia.

Trả lời:

  • Mâu thuẫn trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia
    • Nhan đề: Hạnh phúc >< tang gia => Cho thấy sự kì lạ gợi được sự tò mò cho người đọc. Nhưng đồng thời, nhan đề đó cũng gợi mở được nội dung của đoạn trích. Bởi lẽ, trong đám tang lẽ ra người ta phải thấy đau đớn, buồn rầu nhưng trái lại người ta lại chỉ thấy hiện lên ở những kẻ được xem là người thân, người bạn một niềm vui sướng khi tham gia lễ tang của người vừa nằm xuống kia 
    • Trong chính những nhân vật được khắc họa trong đoạn trích: sự đối lập hoàn toàn giữa biểu hiện bề ngoài với những suy tính bên trong – những suy tính nhỏ nhen, ích kỉ đốn mạt.
  • Những chân dung trào phúng
    • Cụ cố Hồng: mơ màng nghĩ tới cảnh mặc áo xô gai, chống gậy khóc lóc đề người ta chỉ trỏ, nhắc lại câu nói vô nghĩa “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi” hơn 1000 lần
    • Ông Văn Minh: vui sướng vì cái di chúc sẽ đi vào giai đoạn thực hiện chứ không còn là trên giấy tờ; đau đầu vì không biết sẽ phải cư xử thê nào với Xuân tóc đỏ “hai cái tội nhỏ, một cái ơn to”
    • Bà Văn Minh: nóng lòng chờ tới giờ phát tang để lăng xê một tang phục mới của tiệm Âu hóa với thông điệp “ban cho những ai có tang đương đau đớn vì kẻ chết cũng được hưởng chút ít hạnh phúc ở đời”
    • Cô Tuyết: mặc bộ y phục “Ngây thơ” để chứng minh rằng mình không phải là gái hư hỏng, cũng chưa đánh mất cả chữ trinh.
    • Cậu Tú Tân: nóng lòng được chụp ảnh vì cậu đã phải huy động mấy chiếc máy ảnh.
    • Ông Phán mọc sừng: vui sướng vì ông bố vợ hứa sẽ cho thêm vài nghìn đồng, và khóc đến ngất người đi chỉ để dúi vào tay Xuân tóc đỏ một đồng giấy bạc năm đồng gấp tư để trả nốt món nợ và chữ tín của mình.
    • Những tay cảnh sát, giới nhà tu, những ông bạn của cụ cố Hồng, những nam thanh nữ tú đi đưa đám

=> Tất cả đều không hề mảy may thương xót, buồn thương cho người đã chết mà mỗi người đến với đám tang đều theo đuổi một suy nghĩ, mục đích của riêng mình

=> Cả một xã hội đồi bại, khốn nạn được hiện lên qua những bức chân dung trong đoạn trích – những con người tự nhận mình là tân tiến. là Âu hóa thực chất cũng chỉ là những kẻ tầm thường, đốn mạt, vô nhân tính mà thôi.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button