Giáo Dục

Bài soạn lớp 11: Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận phân tích và so sánh

Hướng dẫn soạn bài: Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận phân tích và so sánh – Trang 120 sgk ngữ văn 11 tập 1. Tất cả các câu hỏi trong bài học đều được trả lời rành mạch và dễ hiểu. Với cách soạn sau, các em học sinh sẽ nắm tốt nội dung bài học. Ngoài ra, nếu có câu hỏi nào, các em comment phía dưới để thầy cô giải đáp.

Câu trả lời:

Câu 1: Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi ở bên dưới:

Chớ tự kiêu tự đại. Tự kiêu tự đại là khờ dại. Vì mình hay, còn nhiều người hay hơn mình. Mình giỏi còn nhiều người giỏi hơn mình.Tự kiêu tự đại tức là thoái bộ. Sông to, bể rộng thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng của  nó rộng và sâu.Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng của nó hẹp nhỏ.Người mà tự kiêu tự mãn thì cũng như cái chén, cái đĩa. 

(Hồ Chí Minh, Cần kiệm liêm chính)

Bạn đang xem: Bài soạn lớp 11: Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận phân tích và so sánh

  • Đoạn trích trên sử dụng những thao tác lập luận nào? 
  • Phân tích mục đích, tác dụng và cách kết hợp của các thao tác lập luận trong đoạn trích?
  • Anh (chị) rút ra được kết luận gì về việc vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận trong một bài nghị luận?

Trả lời:

  • Đoạn trích trên sử dụng những thao tác lập luận nào? ở đoạn trích này nổi bật lên là hai thao tác lập luận phân tích và so sánh, hay nói cách khác thì đây là một mẫu mực cho sự kết hợp giữa hai thao tác lập luận phân tích và so sánh. Thao tác lập luận phân tích được thể hiện ở ở chỗ tác giả chỉ ra rằng chớ tự kiêu tự đại, tự kiêu tự đại là dại khờ. Tự kiêu tự đại chính là sự thoái bộ. Thao tác lập luận so sánh thể hiện ở chỗ tác giả cho rằng ” Vì mình hay, còn nhiều người hay hơn mình. Mình giỏi còn nhiều người giỏi hơn mình” rồi “Người mà tự kiêu tự mãn thì cũng như cái chén, cái đĩa”.
  • Phân tích mục đích, tác dụng và cách kết hợp của các thao tác lập luận trong đoạn trích? Việc vận dụng kết hợp hai thao tác lập luận phân tích và so sánh trong đoạn trích này, giúp cho người đọc có được những hình dung, những hiểu biết về tính tự kiêu tự đại trong mỗi con người. Giúp người đọc nhận ra rằng bản thân sự hiểu biết của con người bao giờ cũng hạn hẹp và có giới hạn nhất định “biển học vô bờ” những kiến thức ta biết đươc chỉ như những hạt cát giữa đại dương. 
  • Anh (chị) rút ra được kết luận gì về việc vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận trong một bài nghị luận? Việc vận dụng nhiều thao tác lập luận trong một bài văn nghị là một điều tất yếu. Không có một văn bản nghị luận nào mà chỉ sử dụng một thao tác lập luận duy nhất, cần có sự kết hợp để bài văn linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, trong mỗi bài văn đoạn văn thì thường chỉ có một thao tác chủ đạo còn các thao tác khác chỉ là bổ trợ cho thao tác chủ đạo. Trong đoạn văn, thao tác lập luận phân tích là thao tác đóng vai trò chủ đạo còn thao tác so sánh chỉ đóng vai trò hỗ trợ mà thôi.

Câu 2: Vận dụng kết hợp phân tích và so sánh, viết đoạn văn…

Vận dụng kết hợp phân tích và so sánh, viết đoạn văn bàn về vẻ đẹp của một bài thơ (bài văn).

Trả lời:

Bài thơ lựa chọn: Tự tình – Hồ Xuân Hương

Thơ hay là thơ phải có nội dung sâu sắc, phải có hình thức diễn đạt phù hợp, thơ hay là thơ khiến cho người đọc, đọc xong có ấn tượng sâu sắc. Họ cảm nhận đó  như là tâm trạng của mình. Cái thú vị, cái hay của bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương thể hiện ở chỗ, cách dùng từ ngừ của Hồ Xuân Hương hết sức giàn dị, giàu sức biểu cảm, táo bạo nhưng lại rất tinh tế. Đó là những từ ngữ như “trơ cái hồng nhan, đâm toạc chân mây, mảnh tình san sẻ”. Với tài nghệ sứ dụng từ ngữ, Hồ Xuân Hương đã tạo cho bài thơ nhiều giọng điệu với đầy đủ các sắc thái tình cảm: tủi hổ, phiền muộn, bực dọc, phản kháng và cuối cùng là chua chát, chán chường. Nhà thơ còn dùng phép tiều đối:  lấy “cái hồng nhan” đem đối với “nước non” thật đắt và táo bạo nhưng lại rất phù hợp nên dã làm nổi bật được tâm trạng cô đơn, chán chường của mình. Đặc biệt, nghệ thuật tăng tiến ờ câu cuối: Mảnh tình – san sẻ – tí – con – con, đã làm nổi bật tâm trạng chua chát, buồn tủi của chủ thế trữ tình trước tình duyên lận đận. Với nghệ thuật dặc sắc đó, Hồ Xuân Hương đã góp vào kho tàng thơ Nôm Việt Nam một tiếng thơ táo bạo mà chân thành, mới lạ nhưng lại hết sức gần gũi. Bài thơ mang giá trị nhân đạo sâu sắc. Với việc giài bày nỗi cô đơn, buồn tủi cúa mình, nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã nói lên được tình cảnh chua chát cùa muôn vàn phụ nữ trong xã hội phong kiến. Đó là xã hội bất công đã làm cho bao nhiêu thân phận “hồng nhan” bị lỡ làng và đau khổ. Buồn tủi với tình cảnh hiện tại, nữ sĩ luôn khao khát một cuộc sống hạnh phúc, một tình yêu lứa đôi trọn vẹn. Khát vọng của Hồ Xuân Hương về hạnh phúc lứa đôi cũng chính là khát vọng của người phụ nữ trong xă hội lúc bấy giờ. Đó là một khát vọng chính dáng và đầy tính nhân văn. 

Câu 3: Công việc ở nhà

a. Vận dụng kết hợp các thao tác phân tích và so sánh để viết đoạn văn trình bày một luận điểm khác ở dàn ý mà anh chị đã xây dựng.

b. Viết một đoạn văn nghị luận ngắn về một phẩm chất của người học sinh.

c. Sưu tầm những đoạn văn hay ở đó tác giả đã thành công trong việc vận dụng kết hợp các thao tác phân tích và so sánh.

Trả lời:

a. Vận dụng kết hợp các thao tác phân tích và so sánh để viết đoạn văn trình bày một luận điểm khác ở dàn ý mà anh chị đã xây dựng.

Nói đến người phụ nữ Việt Nam thì phải nói về lòng hiếu thảo với cha mẹ, sự chịu thương, chịu khó và giàu đức hi sinh. Thật vậy, từ xa xưa trong ca dao dân ca đã có những hình ảnh khắc họa đức tính ấy của người phụ nữ như “Ở nhà còn mẹ, còn cha/ lẽ đâu tôi dám nguyệt hoa cùng người; cái cò lặn lội bờ sông / gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”, “Chồng em áo rách em thương/ chồng người áo gấm, sông hương mặc người” hay ” Chưa chồng đi dọc, đi ngang/ có chồng cứ thẳng một đàng mà đi”. Ngươì phụ nữ Việt Nam từ lâu đã được giáo huấn cẩn thận vì thế họ đoan trang, yêu thương cha mẹ, biết lễ nghĩa, thùy mị. Tình yêu của họ với cha mẹ thì mãnh liệt, nhưng tình yêu đôi lứa của họ nhẹ nhàng nhưng  rất đỗi chung tình. Không chỉ ca dao, tục ngữ cho rằng người phụ nữ Việt Nam giàu đức hi sinh mà trong các tác phẩm văn học Việt Nam đi suốt chiều dọc lịch sử đất nước cũng khẳng định điều ấy. Ta bắt gặp thân phận của người phụ nữ trong những tác phẩm văn học trung đại, như Thúy Kiều trong Truyện KIều của Nguyễn Du, Vũ Nương trong truyện Người con gái Nam Xương, rồi người phụ nữ trong một số bài thơ  của Hồ Xuân Hương.Họ không chỉ đẹp ở tư dung bên ngoài mà còn đủ tài năng và đức hạnh. Văn học Việt Nam hiện đại, lại một lần nữa khẳng định đức tính tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam.Thời kỳ này, họ cái đẹp của họ không đơn thuần là sự cam chịu, sự nhẹ nhàng như thời trung đại mà cái đẹp của họ toát lên ở sự năng động trẻ trung. Họ yêu làng, yêu nước, yêu quê hương. Họ cũng tham gia đánh giặc, lo lắng bương trải cho gia đình.  Đã có biết bao bà mẹ Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ ” ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ/ Các anh không về, mình mẹ lặng im” (Tạ Hữu Yên). Có mẹ ở Hà Bắc đã vá hơn hai trăm chiếc áo cho bộ đội, chiến sĩ: …”Tấm áo ấy bấy lâu nay con thường vẫn mặc/ Để nhớ ngày chúng con về Hà Bắc/ Quần nhau với giặc, áo con rách thêm/ Nên các mẹ già lại phải thức thâu đêm vá áo/ Tấm áo ấy bấy lâu nay con quý hơn cơm gạo/ Đời mẹ nghèo thương áo rách/ Áo rách nên thương/” (Nguyễn Văn Tý).  Những bà má ở Hậu Giang, bà Bầm ở Trung du, bà Bủ ở Việt Bắc, mẹ Tơm ở Thanh Hoá, mẹ Suốt ở Quảng Bình, chị Út Tịch ở Cầu Kè, Trà Vinh… và biết bao các mẹ, các chị đã đi vào thơ ca, nhạc, hoạ. Chị Út Tịch với quyết tâm đánh Mỹ đến cùng “Còn cái lai quần cũng đánh”. Những cô gái người Pa cô, Vân Kiều đi tải đạn, và tay vót chông miệng hát không nghỉ. Mười cô gái ở Ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh), tuổi đẹp như trăng rằm từ 18 đến 20 đã ngã xuống để làm xanh một khoảng trời con gái (Lâm Thị Mỹ Dạ). Nhiều cô gái Em ở nông trường hay ra biên giới miệng vẫn hát vang lời ca Cuộc đời vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao! Những cô giáo ở Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên hay ở vùng sâu, vùng xa hy sinh cả tuổi xuân để đem chữ Cụ Hồ tới đàn em thơ ở các bản làng dân tộc xa xôi, hẻo lánh. Cô giáo người Tày Tô Thị Rĩnh đã dùng tiếng đàn để thu hút các em học sinh người Hmông tới lớp, lấy đồng lương ít ỏi của mình để mua tập vở cho các em. 

b. Viết một đoạn văn nghị luận ngắn về một phẩm chất của người học sinh.

Trung thực là đức tính quan trọng cần có trong mỗi người học sinh. Đó là một điều không thể bàn cãi được. Tuy nhiên, ngày nay do bị ảnh hưởng bởi niều hướng mà có người này, có người kia, có em học sinh trung thực, có em không trung thực. Gian lận trong thi cử, nói dối bố mẹ, thầy cô, bạn bè và mọi người xung quanh là những biểu hiện tiêu biểu nhất của việc học sinh không trung thực. Tại sao lại có thể khẳng định rằng trung thực là đức tính quan trọng cần có trong mỗi người học sinh?. Ta hiểu rằng giáo dục con người, quan trọng nhất là giáo dục khi họ còn đang ngồi trong ghế nhà trường. Thời học sinh ảnh hưởng trực tiếp trong việc xây dựng nhân cách của con người trong tương lai. Khi con người ta, ngay từ nhỏ, còn đang là học sinh không được giáo dục về tính trung thực thì sẽ để lại hậu quả nghiêm trọng đến nhường nào. Trước hết, đối với chính người học sinh đó. Họ sẽ đánh mất niềm tin ở mọi người và tự trọng của mình đối với mọi người. Thiếu trung thực sẽ đánh mất niềm tin và sự tôn trọng của mọi người đối với mình. Nạn học giả , bằng thật do quay cóp chép bài của bạn , gian lận trong thi cử vẫn còn phổ biến . Điều đó làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả thực chất của dạy và học, gây dư luận xấu trong xã hội. 

c. Sưu tầm những đoạn văn hay ở đó tác giả đã thành công trong việc vận dụng kết hợp các thao tác phân tích và so sánh.

  • Đoạn văn 1:

Yêu người, đó là một truyền thống cũ .” Chinh phụ ngâm, cung oán ngâm khúc” đã nói đến con người. Nhưng dù sao cũng là mới bàn về một hạng người. Với Kiều, Nguyễn Du đã nói đến cả toàn xã hội người. Với “Chiêu hồn” thì cả loài người được bàn đến […]. Chiêu hồn, con người trong cái chết. Chiêu hồn, con người trong từng giới, từng loài, “mười loài là những loài nào” với những nét cộng đồng phổ biến, điển hình của từng loại một.[..]

( Theo Tuyển tập của Chế Lan Viên, Tập II, NXB văn học Hà Nội, 1990) 

 => Đoạn văn này dùng thao tác lập luận so sánh để làm nổi bật ý văn của mình.

  • Đoạn văn 2:

Thanh Tâm Tài Nhân nói đến Từ Hải trên bốn mươi trang giấy, Nguyễn Du chỉ nói trong mấy trang, mười phần bỏ đi tám. Tuy thế, trong Nguyễn Du có những điều trong Thanh Tâm Tài Nhân không có. Những điều có thể gợi hình ảnh của một vị anh hùng. Từ Hải cùng ở với KIều năm tháng rồi biệt Kiều mà đi . Thanh Tâm Tài Nhân chỉ nói thế. Nguyễn Du kỹ hơn:

Nửa năm hương lúa đương nồng 

Trượng phu thoát đã động lòng bốn phương.

Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương. Con người này quả không phải là người của một nhà, một họ, một xóm, hay một làng. Con người này là của trời đất, của bốn phương. Một người như thế lúc ra đi ắt cũng không tầm thường như Thanh Tâm Tài Nhân tưởng. 

(Theo Tuyển tập Hoài Thanh, tập I,NXB Văn học Hà Nội, 1982)

=> Đoạn văn này tác giả đã thực sự thành công, khi vận dụng thao tác lập luận so sánh giữa Thanh Tâm Tài Nhân và Nguyễn Du khi nói về Từ Hải. Từ đó làm nổi bật tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button