Giáo Dục

Giải lịch sử 10 bài 24: Tình hình văn hóa ở các thế kỉ XVI – XVIII

Hướng dẫn giải, tóm tắt nội dung bài học và làm bài tập 24: Tình hình văn hóa ở các thế kỉ XVI – XVIII – trang 121 lịch sử lớp 10. Tất cả các câu hỏi bao gồm giữa và cuối bài học đều được Baivan.net hướng dẫn giải chi tiết, dễ hiểu và ngắn gọn nhất. Chúng ta tham khảo để học tốt lịch sử 10 bài 24: Tình hình văn hóa ở các thế kỉ XVI – XVIII nhé.

Câu trả lời:

I. HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI GIỮA BÀI

Câu 1: Em cho biết lúc bấy giờ nước ta có những tôn giáo nào? Những nét đẹp….

Em cho biết lúc bấy giờ nước ta có những tôn giáo nào? Những nét đẹp trong tín ngưỡng dân gian của Việt Nam là gì?

Trả lời:

Lúc bấy giờ nước ta có:

  • Nho giáo
  • Phật giáo, đạo giáo
  • Thiên chúa giáo

Trong những tôn giáo này, nho giáo đang từng bước suy thoái. Trong khi đó phật giáo và đạo giáo đang từng bước lấy lại vị thế của mình. Thiên chúa giáo phát triển lan khắp cả nước.

Bạn đang xem: Giải lịch sử 10 bài 24: Tình hình văn hóa ở các thế kỉ XVI – XVIII

Những nét đẹp trong tín ngưỡng dân gian của Việt Nam:

  • Các tín ngưỡng truyền thống tốt đẹp được nhân dân ta phát huy, tôn trọng. Điển hình như là phong tục thờ cúng tổ tiên, tôn thờ những người đã khuất, những người có công với làng nước, nhất là những ngời có công với đất nước.
  • Bên cạnh đó chùa chiền, nhà thờ đạo, đền thờ, lăng miếu cũng được xây dựng nhiều nơi, đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân dân ta.

Câu 2: Ở các thế kỉ XVII – XVIII, việc không chú ý nhiều đến các môn khoa học tự nhiên….

Ở các thế kỉ XVII – XVIII, việc không chú ý nhiều đến các môn khoa học tự nhiên có ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển kinh tế của nước ta?

Trả lời:

Ở các thế kỉ XVII – XVIII, việc không chú ý nhiều đến các môn khoa học tự nhiên có ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế của nước ta.

Trước hết, làm cho đất nước ta chậm phát triển vì không đáp ứng được thành tựu khoa học – kĩ thuật.

Không có điều kiện tiếp nhận những thành tựu khoa học – kĩ thuật phương Tây để phát triển kinh tế, khiến cho nền kinh tế bị kìm hãm và khó có thể phát triển.

Câu 3: Văn học Việt Nam thế kỉ XVII – XVIII có gì mới? Điểm mới đó nói lên điều gì?

Trả lời:

Thể kỉ XVI – XVIII, nền văn học nước ta có những nét mới, nét thay đổi so với các thế kỉ trước. Đó là:

  • Văn học chữ Hán giảm sút so vời thời gian trước đó
  • Văn học chữ Nôm ngày càng phát triển mạnh
  • Văn học dân gian phát triển với nhiều thể loại phong phú và hấp dẫn
  • Chữ Quốc ngữ ra đời trong giai đoạn này. Tuy nhiên, nó chưa được sử dụng rộng rãi.

Từ những đặc điểm đó ta có thể thấy rằng:

  • Ngoài việc văn học chữ Hán có phần giảm sút thì nhìn chung các lĩnh vực khác của văn học như văn chữ Nôm, văn học dân gian đều rất phát triển.  Điều này chứng tỏ cuộc sống tinh thần  của nhân dân ta đang ngày càng được đề cao, khiến cho nền văn học thêm phần phong phú, đa dạng.

Câu 4: Nêu một vài công trình nghệ thuật hay làn điệu dân ca ở địa phương….

Nêu một vài công trình nghệ thuật hay làn điệu dân ca ở địa phương mà em biết? Chứng minh sự phong phú của nghệ thuật Việt Nam ở các thế kỉ XVI – XVIII?

Trả lời:

Nêu một vài công trình nghệ thuật hay làn điệu dân ca ở địa phương:

  • Một số công trình nghệ thuật:
    • Chùa Thiên Mụ (Thừa thiên – Huế)
    • Chùa Tây Phương (Hà Tây)
    • Chùa Bút Tháp (Bắc Ninh)
  • Một số làn điệu dân ca:
    • Quan họ
    • Hát dặm…

=> Nghệ thuật Việt Nam ở các thế kỉ XVI – XVIII rất phong phú.

Chứng minh:

  • Nghệ thuật kiến trúc điêu khắc phát triển và đạt nhiều công trình có giá trị: chùa Thiên Mụ, các tượng La Hán ở chùa Tây Phương…
  • Trào lưu nghệ thuật dân gian được hình thành.
  • Nghệ thuật sân khấu phát triển: nhiều phường tuồng, phường chèo…
  • Ngoài ra còn phổ biến hàng loạt làn điệu dân ca mang tính địa phương đậm nét như quan họ, hò, vè, si….

II. HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI CUỐI BÀI

Câu 1: Phân tích đặc điểm và ý nghĩa của văn học Việt Nam ở các thế kỉ XVI –XVIII?

Trả lời:

Đặc điểm của văn học Việt Nam ở các thế kỉ XVI – XVIII:

  • Từ thế kỉ XVI – XVII, cùng với sự suy thoái của Nho giáo, văn học chữ Hán đã mất dần vị thể vốn có của nó trong thời Lê Sơ.
  • Chữ Nôm cũng bắt đầu xuất hiện, dần dần được sử dụng để sáng tác văn học. Từ thế kỉ XVI – XVII, văn học chữ Nôm phát triển mạnh với nhều nhà thơ Nôm nổi tiếng như của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Đào Duy Từ…vv
  • Bên cạnh dòng văn chính thống, dòng văn học trong nhân dân nở rộ với các thể loại phong phú như ca dao, tục ngữ, lục bát, truyện cười… mạng đậm tính dân tộc và dân gian.
  • Chữ quốc ngữ ra đời vào thế kỉ XVII, tuy nhiên vẫn chưa phổ biến.

Câu 2: Lập bảng thống kê các loại hình nghệ thuật tiêu biểu của nước ta trong….

Lập bảng thống kê các loại hình nghệ thuật tiêu biểu của nước ta trong các thế kỉ XVI – XVIII. Nhận xét về đời sống văn hóa của nhân dân ta thời đó?

Trả lời:

Nghệ thuật

Thành tựu

Kiến trúc – điêu khắc

Một số công trình kiến trúc như chùa Thiên Mụ (Huế), tượng phật bà Quan Âm nghìn mắt, nghìn tay ở chùa Tháp Bút ( Bắc Ninh)…

Nghệ thuật dân gian

Trên các vì, kèo ở những ngôi đình, nghệ nhân đã khắc những cảnh sinh hoạt thường ngày như cày, bừa, đấu vật,…

Nghệ thuật sân khấu

Nhiều phường tuồng, chèo,…Các làn điệu dân ca mang tính địa phương như hò, vè, si, quan họ,…

 Nhận xét:

  • Qua những thành tựu nghệ thuật trên của nước ta thời bấy giờ đã cho ta thấy được:
  • Đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của nhân dân ta rất đa dạng và phong phú. Thể hiện đậm nét riêng của mỗi địa phương

Câu 3: Thống kê các thành tựu khoa học – kĩ thuật các thế kỉ XVI – XVIII…

Thống kê các thành tựu khoa học – kĩ thuật các thế kỉ XVI – XVIII. Nhận xét về ưu điểm và hạn chế của nó?

Trả lời:

Khoa học – kĩ thuật

Thành tựu

Sử học

Ô châu cận lục, Đại Việt thông sử, Phủ biên tạp lục, Đại Việt sử kí tiền biên, Thiên Nam ngữ lục (chữ Nôm)…

Địa lí

Tập bản đồ Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư.

Quân sự

Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ

Y học

Bộ sách y dược của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác.

Quốc phòng

Đúc súng đại bác kiểu phương Tây, đóng thuyền chiến, xây thành luỹ…

Nhận xét:

  • Ưu điểm: Những thành tựu khoa học đã diễn ra trên nhiều lĩnh vực hơn các thế kỉ trước, có nhiều tác phẩm có giá trị.
  • Hạn chế: Do những hạn chế về quan niệm và giáo dục đương thời đã làm cho khoa học tự nhiên không có điều kiện phát triển. Trong lĩnh vực kĩ thuật, việc ứng dụng những thành tựu từ bên ngoài cũng chủ yếu dừng lại ở việc chế tạo thử chứ chưa phát triển.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button